Home » arts

Bàn tròn về Nghệ thuật tạo hình đương đại

12 January 2008 No Comment

Cách đây hơn 10 năm, bất ngờ xuất hiện trong triển lãm của Trương Tân, Nguyễn Minh Thành, Vũ Dân Tân… một số loại hình nghệ thuật đương đại: sắp đặt, trình diễn… bắt đầu du nhập Việt Nam. Trào lưu này đã gây ấn tượng mạnh trong công chúng trẻ ở Hà Nội và TP. HCM, đồng thời tạo ra sóng gió dư luận. Như hầu hết các xu hướng cách tân trong nghệ thuật, những loại hình tân kỳ này đều có xuất xứ từ nước ngoài và được du nhập vào Việt Nam một cách tự phát. Nghệ sĩ trẻ dồi dào năng lượng để dấn thân, nhưng con đường sáng tạo nhiều thách đố đòi hỏi sự đổi mới không ngừng, bản lĩnh và nền tảng tri thức, ngay từ việc tiếp thu những khái niệm cơ bản. Công chúng trẻ ở các đô thị lớn, những người luôn khao khát cái mới, nhưng thiếu thông tin, thiếu nền tảng để tiếp cận. Khoảng cách, những ngộ nhận này sẽ được giải quyết như thế nào? Saigon CityLife đã có cuộc thảo luận bàn tròn về đề tài này, để nhìn lại thành quả một thập niên qua, đồng thời làm rõ một vài khái niệm đang được hiểu một cách khá mơ hồ. Kỳ này, chúng ta gặp gỡ 3 họa sĩ, cũng là những nhà phê bình mỹ thuật tên tuổi: Nguyễn Quân, Trịnh Cung, Trần Lương.

1. Các khái niệm sau đây đang được hiểu như thế nào ở Việt Nam, đúng và sai: fine arts, installation, performance art, visual art, multimedia art, land art, nghệ thuật đương đại, hội họa ngoài giá vẽ…?

Họa sĩ Trịnh Cung (TC): Trong các thuật ngữ nêu trên, fine arts là quen thuộc nhất đối với giới nghệ sĩ tạo hình Việt Nam, nó đồng nghĩa với từ beaux arts (mỹ thuật) của tiếng Pháp và người Việt biết đến nó từ khi người Pháp lập ra trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1925. Đây là một phiên bản của trường Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Còn có một từ rất thịnh hành thời bấy giờ có cùng một ý nghĩa với fine arts là arts plastiques được dịch là nghệ thuật tạo hình. Có một thời, Việt Nam đã đặt tên Hội Mỹ thuật Việt Nam là Hội Nghệ sĩ Tạo hình Việt Nam.

Cho đến thập niên 70 của thế kỷ 20, từ installation (sắp đặt) mới xuất hiện để chỉ một xu hướng mới của mỹ thuật. Từ sau năm 1995, chúng ta mới có lớp nghệ sĩ sắp đặt đầu tiên như Trương Tân, Nguyễn Minh Thành, Vũ Dân Tân, Trần Lương… Installation trở thành một khuynh hướng tiền phong cho nghệ thuật đương đại thế giới và tất nhiên, sự bùng nổ của các loại hình hội họa ngoài giá ve (hay còn gọi là nghệ thuật đa phương tiện) như trình diễn (performance), nghệ thuật thị giác (visual art), nghệ thuật sắp đặt âm thanh (sound installation), nghệ thuật địa hình (land art)… đã tạo ra sự khác biệt với dòng mỹ thuật hiện đại ngự trị gần suốt thế kỷ 20.

art_02

Một tác phẩm của Dinh Q. Lê

Có người cho rằng visual art có trước fine arts, theo tôi, đây là một sự nhầm lẫn vì đã dựa theo nghĩa gốc của từ visual. Visual art là một xu hướng sáng tạo mới dựa vào kinh nghiệm từ phim ảnh và các phương tiện kỹ thuật số, các nghệ sĩ đương đại tạo ra video art hoặc pha trộn và kết nối hình ảnh để cho ra đời những tác phẩm được gọi là nghệ thuật thị giác (visual art).

Và cũng vì nghệ thuật đương đại sử dụng mọi phương tiện, từ những thứ bị bỏ đi như rác rưởi cho đến những thứ thật đắt tiền như kim loại quý, máy móc, công nghệ thông tin ngày nay và cả thân thể của chính tác giả nên những nhà nghiên cứu về nghệ thuật đương đại có xu hướng dùng từ nghệ thuật đa phương tiện (multimedia art) để nói đến các hình thức nghệ thuật ngoài giá vẽ hôm nay.

Họa sĩ Nguyễn Quân (NQ): Việc dịch các từ nước ngoài diễn đạt các khái niệm mới là một quá trình tự chỉnh, sao cho trót lọt nội hàm của chúng và tiện dụng trong hoạt động học thuật ở Việt Nam. Fine arts là (các môn) mỹ thuật, installation được tôi dịch là sắp đặt và đã được chấp nhận rộng rãi, performance là môn trình diễn của mỹ thuật, người “họa sĩ” dùng động tác thân thể kết hợp với âm thanh, ánh sáng để làm tác phẩm. Multimedia art là nghệ thuật đa phương tiện truyền thông. Land art có người dịch là nghệ thuật địa hình hay nghệ thuật cảnh quan vì nó dùng địa hình của một nơi chốn nào đó làm phương tiện biểu đạt. Nghệ thuật đương đại dịch chữ Contemporary art nghĩa là nghệ thuật đương thời. Chữ này được dùng thay cho modern art - nghệ thuật hiện đại vì modernism - chủ nghĩa hiện đại hay nghệ thuật hiện đại - đã thành khái niệm chỉ riêng các trào lưu nghệ thuật nửa đầu thế kỷ 20 ở châu Âu. Nghệ thuật đương đại cũng có khi được dùng để chỉ các môn nghệ thuật mới không phải là các môn truyền thống (điêu khắc, hội họa giá vẽ, đồ họa…). Hội họa ngoài giá vẽ là khái niệm không chuẩn chỉ các tác phẩm hội họa không gắn vào khung, treo trên tường…

Một từ được dịch hay “bịa ra” từ một thực tế nào đó để chỉ một hiện tượng nào đó, dần dần có được sự đồng thuận về nội hàm thì trở thành khái niệm, thậm chí khái niệm khoa học. Cần tránh hiểu theo lối chiết tự, ghép ý từng chữ rồi “suy” ra. Thí dụ, chủ nghĩa ấn tượng được một nhà phê bình lấy theo tên bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc của C. Monet chứ không liên quan gì tới ấn tượng cả. Chủ nghĩa lập thể là do các bức tranh của P. Picasso vẽ kiểu này bị giễu là giống các khối hộp lập phương vặn vẹo. Chủ nghĩa trừu tượng là loại tranh không có hình mô tả một đối vật chứ không trừu tượng tý nào, ngược lại, các họa sĩ theo trường phái này muốn bức tranh phải là một đồ vật cụ thể, tự thân không mô tả hay đại diện cho một cái gì. Chủ nghĩa dã thú là từ mà một nhà phê bình sử dụng để nhận xét một bức tranh của H. Matisse, sau được dùng để chỉ trường phái hội họa rất nên thơ và tươi trẻ do ông khởi xướng chứ không hoang dã hay man rợ v.v… và v.v… Để tránh những suy diễn tùy tiện, nên giải thích rõ các thuật ngữ mới để mọi người hiểu đúng và quen dần. Ở nước ngoài, các chương trình giáo dục nghệ thuật đều có giới thiệu những khái niệm chuyên môn. Mấy năm trước, có một họa sĩ nước ngoài từng làm một chương trình vẽ tranh theo các “khái niệm” là tên các trường phái “hiện đại”: dã thú, vị lai, siêu thực, lập thể, pop art… để sinh viên hiểu đúng về các khái niệm này, tránh mơ hồ nhầm lẫn.

Họa sĩ Trần Lương (TL): Fine arts là mỹ thuật nói chung hiểu theo ngữ cảnh: từ nghệ thuật hiện đại trở về trước. Installation là nghệ thuật sắp đặt. Visual art là mỹ thuật hiểu theo ngữ cảnh: từ khi có nghệ thuật đương đại. Multimedia art là mỹ thuật phối hợp các phương tiện kỹ thuật cao (bao gồm các phương tiện truyền thông, nghe nhìn, với công nghệ vi tính, web, thiết kế, laser…). Land art là nghệ thuật sắp đặt môi trường kích thước lớn đến siêu lớn.

2. Với nền tảng tri thức, văn hóa, và một bối cảnh xã hội như hiện tại, các nghệ sĩ Việt Nam có đủ tinh thần, tâm thế đương đại và khả năng dấn thân không?

TC: Hiện nay ở Việt Nam, không ít nhà văn và họa sĩ còn chưa hiểu được thấu đáo từ đương đại, đừng nói chi đến công chúng. Người ta không phân biệt được hiện đại và đương đại.

Lớp nghệ sĩ đương đại Việt Nam đang cho thấy phần lớn họ không được thừa hưởng những kinh nghiệm và lý thuyết về nghệ thuật đương đại. Nghệ thuật hiện đại của Việt Nam chỉ ở mức thời kỳ đầu của nghệ thuật hiện đại phương Tây nên những thông tin ít ỏi về nghệ thuật đa phương tiện có được đã trở thành luồng gió mới trong đời sống sáng tạo của họ. Một số khác, vì không có ý thức trong việc làm nghệ thuật đương đại mà chỉ sáng tác theo cảm tính và sự nổi loạn tự thân, nên nghệ thuật đương đại đối với họ như một món thời trang lạ mắt, không theo thì không phải người của hôm nay. Tuy nhiên, giới này còn có được một thái độ hồn nhiên, có thể vươn tới ý thức nếu được trang bị lý thuyết và tiếp cận với tinh thần đương đại đích thực.

Về mặt dấn thân cho sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Việt Nam, có thể nói những nghệ sĩ có tinh thần này còn quá ít, chưa đủ khả năng làm thay đổi và đưa nghệ thuật đương đại Việt Nam lên ngang tầm của khu vực.

Với một nền tảng tri thức và bối cảnh xã hội như hiện nay, các nghệ sĩ của chúng ta không thể có được một tinh thần đương đại như các nước có một thiết chế xã hội hiện đại và đang sống trong bối cảnh thời hậu công nghiệp. Nghệ thuật Việt Nam chỉ mới ở lưng chừng của hiện đại, còn nặng khuôn mẫu và duy lý, giáo điều, lượng thông tin còn thấp và những cơ hội hội nhập còn bị trì trệ thì lấy đâu ra tinh thần đương đại?

NQ: Ở đâu, thời nào, với nền tảng tri thức nào, trong bối cảnh văn hóa nào người ta chả có “tinh thần, tâm thế đương đại” của thời mình? Ở đâu, thời nào người nghệ sĩ lại không thể dấn thân? Chẳng lẽ nghệ sĩ các nước chậm tiến, nghèo, “lạc hậu” bị cấm không làm nghệ thuật đương đại hay dấn thân? Tôi tin các nhà mỹ thuật Việt Nam hoàn toàn có thể dấn thân với mọi hình thức, cách thức làm nghệ thuật đã và đang có ở Việt Nam và trên thế giới.

TL: Tinh thần, tâm thế, sự dấn thân hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng công dân và tài năng của nghệ sĩ. Nhìn lại lịch sử, nghệ sĩ lớn có phải chỉ sinh ra ở nước lớn đâu? Trong bất cứ hoàn cảnh nào, bối cảnh nào cũng có thể sản sinh nghệ sĩ chân chính và có tài. Vấn đề là ở chỗ, người nghệ sĩ đó có môi trường để liên thông cơ thể và tinh thần của mình với xã hội đương thời hay không? Điều này thì lại phụ thuộc vào điều kiện xã hội, hệ thống giáo dục, quan điểm quản lý văn hóa, hệ thống hỗ trợ phi lợi nhuận… Sự phát triển văn hóa của một cá nhân (và nhất là cá nhân nghệ sĩ) luôn phải cùng nhịp với sự phát triển văn hóa của xã hội đương thời. Nhiều nghệ sĩ lớn trong lịch sử đã không thể liên thông với xã hội đương thời chỉ vì họ đi trước quá xa, đó là tấn bi kịch của cá nhân họ, nhưng họ đã để lại một từ trường văn hóa lâu dài cho nhân loại. Vì vậy, một xã hội phát triển là một xã hội cân đối và cân bằng được các moment phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa. Khi xã hội không tạo ra môi trường ủng hộ, dẫn xuất và phát triển cho văn hóa, thì nghệ sĩ sẽ không thể được nhận ra (công nhận) và không thể sáng tạo hết công suất, cũng không thể trình bày tác phẩm trước công chúng được.

Tuy số lượng không nhiều nhưng chúng ta không thiếu những nghệ sĩ có tinh thần khỏe mạnh, có tâm thế đương đại và dấn thân.

Cái gọi là tâm thế đương đại ở câu hỏi có phải là thứ đặc biệt của xã hội utopia nào đó đâu, bất cứ nghệ sĩ trung thực nào cũng có tâm thế đương đại, chỉ có người giả tạo hoặc tự dối mình thì mới không có tâm thế đương đại (tâm thế đương đại đơn giản là người sống thật - trong hành vi và quan điểm - với xã hội thực tại).

3. Bên cạnh các nghệ sĩ trẻ luôn có những nghệ sĩ, chuyên gia nước ngoài về lĩnh vực này, họ thành lập những nhóm nhỏ và thường xuyên tổ chức triển lãm, hội thảo với sự hỗ trợ của Viện Goethe, L’Espace, Hội đồng Anh…, các ông đánh giá ra sao về các hoạt động này?

TC: Đây là một thực tế rất tích cực của bộ mặt nghệ thuật đương đại Việt Nam trong một thập niên qua. Sự yêu chuộng cái mới bao giờ cũng thuộc về giới trẻ, và chính họ, trong suốt quá trình phát triển của mỹ thuật, luôn luôn tạo ra các biến cố cách mạng nghệ thuật. Rõ ràng, ngay tại Việt Nam với bao định chế khắc nghiệt, thiếu thốn thông tin, ít cơ hội giao lưu, giới trẻ vẫn nỗ lực để được dùng các phương tiện nghệ thuật đương đại nói lên tinh thần của mình, tất nhiên là phải mang đúng màu sắc thời đại của họ.

Sự lập nhóm chỉ là một hoạt động bình thường đã có từ trước thế kỷ 20 của giới nghệ sĩ. Nó là cuộc gặp gỡ của những người cùng quan niệm nghệ thuật để chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi sáng tác. Sự hoạt động mạnh của các nhóm văn nghệ sẽ tạo ra một không khí sáng tạo hào hứng. Đây là điều kiện nảy sinh ra các trường phái nghệ thuật và tất nhiên, sẽ dẫn tới những đỉnh cao cho nền nghệ thuật của mỗi quốc gia.

Bỏ qua những định kiến và cái nhìn tiêu cực đối với các tổ chức văn hóa phi lợi nhuận của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, khi mà nền mỹ thuật Việt Nam còn e ngại về ảnh hưởng đến cộng đồng của các hình thái nghệ thuật đa phương tiện như sắp đặt, trình diễn,… nếu không có sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài (các nghệ sĩ đương đại quốc tế), những Viện Goethe, L’Espace, Hội đồng Anh,… và các quỹ văn hóa đối với lớp nghệ sĩ đương đại Việt Nam từ nhiều năm qua, chắc chắn chúng ta không thể có nhiều cuộc triển lãm nghệ thuật đa phương tiện quan trọng, đáng nhớ và những chuyến đi trại sáng tác cũng như tham gia các cuộc triển lãm nghệ thuật đương đại quốc tế. Hiển nhiên, việc làm này về cả hai phía là rất tốt, một bên, giới trẻ Việt Nam muốn thể hiện mình, muốn cái mới, nên không mặc cảm khi phải gõ cửa nơi họ cần, phía ngược lại, sẵn sàng đón nhận các hoạt động nghệ thuật đương đại của các nghệ sĩ bản địa như một nghĩa vụ quốc tế, tạo nên một kết nối văn hóa giữa các dân tộc.

NQ: Hoạt động theo nhóm là chuyện bình thường của mỹ thuật từ bao thế kỷ rồi. Các loại hình đương đại/mới này lại càng cần tập thể và công chúng vì tác phẩm của nó cũng là một sự kiện, một hoạt động cộng đồng. Bức tranh cất trong kho vẫn là tranh nhưng một tác phẩm installation, performance hay video không có địa điểm, thời gian và công chúng cụ thể thì không tồn tại. Vì cần giấy phép, địa điểm…, cần công chúng và cần tiền tài trợ (mà tới nay ở Việt Nam, từ chính quyền, doanh nghiệp đến các tổ chức văn hóa đều còn chưa hiểu, chưa tạo điều kiện, hỗ trợ, thậm chí còn gây khó dễ) nên thời kỳ đầu, các nghệ sĩ tìm tới các địa chỉ nêu trên là dễ hiểu. Tôi thấy nói chung, các cơ sở trên đã làm những việc tốt cho mỹ thuật Việt Nam, tạo ra các tụ điểm sinh hoạt mỹ thuật đương đại hấp dẫn, tạo ra sự giao lưu văn hóa thú vị. Tất nhiên cũng có những trục trặc, sự cố đáng tiếc mà “phía bạn” phải giải quyết với chính quyền sở tại. Song nhìn chung không nên vì những trục trặc đó mà hạn chế hoạt động của họ và các nghệ sĩ. Năm ngoái, Hội Mỹ thuật TP. HCM và Vụ Mỹ thuật Bộ Văn hóa - Thông tin đã tổ chức một Festival Mỹ thuật Trẻ toàn quốc khá hoành tráng và chất lượng. Tôi nghĩ sắp tới, các trường Mỹ thuật cũng sẽ có các lớp hay khoa đào tạo về các loại hình này.

TL: Đây là hiện tượng giao lưu, là kết quả của mở cửa, nhưng cũng chỉ là tiến trình trả lại nhịp phát triển bình thường cho nghệ thuật. Có va đập thì mới phát triển được, sẽ tránh những ngộ nhận, vừa đá bóng vừa thổi còi (tự chấm và cho huy chương chính tác phẩm của mình). Thế giới văn minh ngày nay là thế giới bãi bỏ dần đường biên giới vật chất, con người ở các tầng lớp và các dân tộc có nhiều không gian để chia sẻ hơn. Ở đâu ta cũng thấy nghệ sĩ thuộc các quốc tịch làm việc cùng nhau: Trung Quốc, Thái lan, Indonesia… và bây giờ cả ở Campuchia nữa, và thường là được tài trợ bởi hệ thống phi lợi nhuận, trong đó có các viện văn hóa kể trên.

Tại sao lại phải cảm thấy “khó ở” khi các hoạt động này thường xuyên xảy ra ở các viện văn hóa nước ngoài? Rất đơn giản là ta đã có hệ thống tài trợ cho phát triển nghệ thuật đâu mà chẳng phải nhờ các viện đó? Ta có được cái nhà triển lãm nào cho ra hồn đâu? Nếu có thì để được triển lãm phải trả tiền thuê không rẻ và chịu nhiều điều kiện ràng buộc thì mới được triển lãm… v.v… Như trên đã nói, nghệ sĩ (và nghệ thuật của họ) chỉ liên thông được với môi trường nào phù hợp, tôn trọng nghệ thuật của họ và ủng hộ không điều kiện, vì thế mà người nghệ sĩ sẽ từ chối cả sự tài trợ của các tập đoàn kinh tế, tài chính, công nghiệp lớn khi bị áp đặt điều kiện cho ngôn ngữ nghệ thuật. Sau này, các tập đoàn đó cũng phải thay đổi quan điểm tài trợ là bỏ hẳn ra một khoản tiền, thuê người điều hành việc tài trợ và quan trọng là: Chỉ đưa ra phương hướng ủng hộ phát triển nghệ thuật mà không can thiệp vào nội dung và tư tưởng tác phẩm.

4. Một số các họa sĩ trẻ tìm đến thứ hội họa ngoài giá vẽ khi chưa thực sự trải qua quá trình làm chủ giá vẽ với những kiến thức chưa hoàn chỉnh về nghệ thuật, đã gây nhiều quan ngại. Có những tên tuổi đạt được một số thành công trong hội họa (giá vẽ) đang hào hứng trở thành những tân binh của các loại hình nghệ thuật mới. Nhìn chung, theo ông, đây là bước tiến hay lùi?

TC: Thực ra, họ không nhất thiết phải đi hết giai đoạn hội họa giá vẽ rồi mới làm thứ nghệ thuật đa phương tiện. Cả một lịch sử huy hoàng của mỹ thuật thế kỷ 20 hầu hết do những họa sĩ “tự học” làm nên, vậy mà tác phẩm của họ tạo ra đã làm nên một nền mỹ thuật tuyệt vời thì rõ ràng, cái cần nhất cho một nghệ sĩ không phải là sự khéo tay, vẽ giỏi, mà là cái đầu sáng tạo, là một tâm hồn lớn. Nếu họ không có được điều này thì dù có được đào tạo cỡ nào cũng chỉ là nghệ sĩ “thị trường” mà thôi.

Sự thay đổi là con đường làm mới mình. Trong sáng tạo nghệ thuật, cứ ôm cái cũ là dậm chân tại chỗ, là tự sao chép lại mình. Tìm kiếm cái mới trong nghệ thuật đầy bất trắc và phi lợi nhuận là một phẩm cách tuyệt vời của người nghệ sĩ. Việc ươm mầm sáng tạo mới sẽ cho ra đời những mùa màng nghệ thuật. Ngay cả trong trường hợp không thành công thì cũng không thể gọi là “lùi”, mà là “tiến về một hướng khác”.

Sự song hành của hai dòng nghệ thuật tạo hình này là một tiến trình phát triển mang tính hỗ tương, làm giàu cho nền mỹ thuật. Và cũng để cho thấy sự khác biệt của từng thời đại mỹ thuật, khác biệt nhưng không mang tính loại trừ. Tuy nhiên, hội họa giá vẽ vẫn đang thống trị các thị trường mỹ thuật lớn trên thế giới và điều này sẽ còn dài lâu.

NQ: Tranh giá vẽ chỉ là một phần nhỏ của mỹ thuật và cũng chỉ mới xuất hiện ở châu Âu khoảng 500 năm nay. Nó cũng không phải cái “gốc” của mỹ thuật để phải làm chủ nó rồi mới “ra ngoài” được (có lẽ do tại các trường mỹ thuật của ta chỉ tập trung vào dạy các kỹ năng làm tranh giá vẽ một cách thô sơ và lạc hậu)! Một họa sĩ luyện hình họa cho các sinh viên mỹ thuật nói với tôi: Có bao nhiêu cách ghi hình giải phẫu cơ thể người nhanh, dễ và đẹp hơn lối vẽ thủ công này nhưng các trường cứ bắt sinh viên vẽ như mấy thế kỷ trước nên tôi mới có “cần câu cơm”! Những người vẽ “tranh giá vẽ” đã “thành công” mà vẫn hào hứng tìm đến các thứ khác, các cách thức làm mỹ thuật khác là chuyện bình thường. Không có chuyện tiến hay lùi gì ở đây cả. Tôi thích các installation của Bảo Toàn, Đặng Thị Khuê, Trần Lương, Trương Tân…, các performance của Đào Anh Khánh, Ly Hoàng Ly… Đó là chuyện bình thường của họ và của tôi, sao lại có chuyện tiến hay lùi? Việc mỹ thuật được mở rộng và “tương tác” với công chúng là hay và không có gì là “không thích hợp” ở Việt Nam cả.

TL: Bản thân cụm từ “hội họa ngoài giá vẽ” là cụm từ vô lý và tự nó bày ra góc nhìn (quan niệm) hạn hẹp và bảo thủ. Nhưng cũng có thể hiểu được ý nghĩa và thông cảm cho sự ra đời của nó trong ngữ cảnh là thân phận của hội họa Việt Nam kể từ cuối những năm 1990.

Thực chất, các môn nghệ thuật thị giác ra đời chỉ tạo nên sự tương tác (đối thoại) tích cực với hội họa và tạo nên cơ may cho hội họa phát triển qua một cơ thể sống mới. Sẽ có không ít cá nhân nghệ sĩ sau khi thực nghiệm các môn nghệ thuật thị giác lại quay lại vẽ một thứ hội họa hoàn toàn mới. Không thể gọi đó là tiến hay lùi, vì một nền nghệ thuật khoẻ mạnh là nơi nghệ sĩ có thể trải nghiệm mọi thứ, mọi phong cách và dám chịu trách nhiệm với những phát triển nghệ thuật của mình.

Trong câu hỏi này có sự hiểu lầm cố hữu ở Việt Nam là: Khi được gọi là nghệ sĩ tạo hình là phải biết vẽ! Đó đã là cách nghĩ bảo thủ từ xa xưa. Cách gọi phổ thông ngày nay là nghệ sĩ thị giác, họ được đào tạo làm video art, installation, nhiếp ảnh, thiết kế, performance… mà không cứ phải đào tạo môn vẽ làm cơ sở. Đào tạo để trở thành họa sĩ hay nhà điêu khắc chỉ là 2 trong mười mấy khoa (môn) trong các trường mỹ thuật ở nhiều nước mà thôi.

Mặt khác, đứng trên góc độ tự do sáng tạo và ngôn ngữ nghệ thuật, nghệ sĩ có quyền chọn lựa phương tiện sáng tạo cho mình mà không cần người khác lo giùm, hay nói cách khác là bị một thứ đạo đức - phong kiến - bảo thủ - mặc định nào đó kiểm soát. Họ (nghệ sĩ) sẽ chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước dư luận.

Sự việc nghệ thuật thị giác phát triển đa dạng chỉ là tiến trình phát triển tự nhiên, song hành logic với sự phát triển xã hội dân chủ và phát triển công nghệ mà thôi. Tất nhiên, đó là xu hướng tích cực.

5. Về thế hệ nghệ sĩ trẻ gốc Việt ở hải ngoại, được đào tạo bài bản và được tham gia các hoạt động nghệ thuật tại các nước, các ông thấy sao?

TC: Đây là một vấn đề rất khó để đưa ra nhận định vì họ định cư rất nhiều nơi trên thế giới, số theo ngành mỹ thuật không nhiều, đa phần theo học các ngành khác. Ngay cả được đào tạo tại các trường đại học mỹ thuật ở Mỹ thì không phải ai cũng thành công bởi xã hội Mỹ là một xã hội cạnh tranh khốc liệt vì tài năng quá đông, hơn nữa không phải trường nào cũng có chất lượng giảng dạy như nhau.

Tất nhiên, đa phần họ đều có một hành trang đầy đủ về kỹ năng và kiến thức mỹ thuật tiêu chuẩn. Họ lớn lên trong một môi trường văn hóa hậu hiện đại nên ngôn ngữ nghệ thuật của họ bắt nhịp một cách tự nhiên với các hoạt động nghệ thuật đang diễn ra trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp. Tuy nhiên, cái khó mà họ gặp phải trên con đường phát triển nghệ thuật là cái tâm thế của một người di dân mới, chưa thoát ra khỏi cái vỏ của nền văn hóa truyền thống.

Trong khi đó, những nghệ sĩ trẻ trong nước lại không có được một môi trường văn hóa và một đời sống thuận lợi cho việc phát triển các dự án nghệ thuật như ở hải ngoại.

NQ: Tôi đã dự một buổi bảo vệ Master of Art của một họa sĩ Việt kiều ở Mỹ với một tác phẩm performance. Các trường mỹ thuật phương Tây rất mở với đời sống xã hội và thực tiễn sáng tác. Những cái mới, loại hình mới đầu tiên xuất hiện bên ngoài nhà trường nhưng nhanh chóng được đưa vào giới thiệu, giảng dạy. Cũng chẳng “bài bản” lắm đâu nhưng rất kích thích sáng tạo, tìm tòi cái mới. Không theo dõi sâu rộng nhưng tôi biết nhiều nghệ sĩ Việt kiều, không chỉ người trẻ, thực hành các loại hình này. Họ cũng liên kết với các nghệ sĩ trong nước và quốc tế. Tất nhiên, có nhiều người tài năng và có những tác phẩm thú vị. Bản chất các loại hình nghệ thuật này là hoạt động theo cách thức liên kết (theo nhóm, có các curator, các quỹ tài trợ, các sự kiện triển lãm, liên hoan, hội tụ… rất phong phú và đa dạng). Nhiều nghệ sĩ trong nước cũng như Việt kiều “đi về” liên tục và hoạt động ở nước ngoài có khi nhiều hơn ở “nước trong”. Nếu các thủ tục trong nước quá “ngặt nghèo”, khó khăn, các nghệ sĩ sẽ tìm môi trường hoạt động ở các nơi khác. Thời đại toàn cầu hóa, ở đâu cũng vậy cả.

TL: Đã có một số nghệ sĩ thị giác trẻ hải ngoại đạt được thành công lớn, cụ thể là họ có tác phẩm trong những bảo tàng hàng đầu chất lượng cao của thế giới, và có mặt ở các festival nghệ thuật hàng đầu thế giới (các biennale và triennale), một số đã về sống trong nước. Trong khi ở trong nước, chúng ta chỉ để ý đến sân khấu và phim ảnh, thời trang (nhưng cũng chỉ ở tầm văn hóa pop), các cá nhân nghệ sĩ và nghệ thuật chất lượng ở tầm cao thì lại không ai để ý và biết đến.

6. Việt Nam có thật sự hội đủ các yếu tố cần thiết cho các trào lưu nghệ thuật mới phát triển? Sự khác biệt giữa Hà Nội và TP. HCM? Với sự năng động, phồn vinh vốn có và một lớp công chúng trẻ, giàu khả năng hội nhập, tiếp cận văn hóa phương Tây sớm, TP. HCM còn thiếu điều gì để có thể trở thành một trung tâm nghệ thuật đương đại của Việt Nam?

TC: “Mới chạy mà bình xăng đã cạn”, nhận định về thực trạng nghệ thuật đương đại Việt Nam hiện nay của họa sĩ Trần Lương trong một tham luận tại Hội thảo “20 năm mỹ thuật thời kỳ đổi mới 1986-2006″ ở Hà Nội ngày 10/5/2007, cho thấy chặng đường 20 năm mỹ thuật vừa qua thực sự có quá nhiều bất cập, phần lớn là do tầm nhìn còn lạc hậu của công tác quản lý mỹ thuật và phần còn lại thuộc về sự không nhận ra vai trò mới của nghệ thuật đa phương tiện đối với đời sống, hoặc, né tránh thực tế bằng cách khoác bộ cánh đương đại lên những đề tài “muôn thuở” của hội họa giá vẽ… Và như thế chỉ là “bình mới rượu cũ”, làm sao có được ngôn ngữ mới cho mỹ thuật Việt Nam?

Không thay đổi được tư duy thì làm sao thay đổi được ngôn ‘6Egữ nghệ thuật, cho dù đã trải qua 20 năm đổi mới hoặc hơn thế nữa? Và tất nhiên, Việt Nam tiếp tục đứng ở vị trí khiêm tốn hơn so với những nước trong khu vực tại những triển lãm quốc tế tầm trung là tất yếu. Đừng mơ tới những cuộc họp mặt tầm thế giới khi ngôn ngữ nghệ thuật đương đại của chúng ta vẫn chưa đi xa hơn những chiếc guốc, cối đá, cái mâm, quang gánh, đèn dầu, nón lá… hoặc là những con rối nước gọi là đại diện cho nghệ thuật đương đại Việt Nam?

Không có môi trường tốt thì làm sao có phong trào lớn, không có phong trào lớn lấy đâu ra cơ hội cạnh tranh, không có cạnh tranh sáng tạo thì lấy đâu ra tác phẩm xuất sắc, không có tác phẩm xuất sắc thì làm sao có mặt tại những liên hoan nghệ thuật thế giới? Đó là lý do nhiều tác phẩm sắp đặt, trình diễn… của các nghệ sĩ chúng ta “được chăng hay chớ”, ý nghĩa thì “vô thưởng” mà sáng tạo thì “vô phạt”. Điều này làm cho người xem nghi ngờ đây có phải là tác phẩm nghệ thuật không? Có người còn cho rằng nghệ thuật đương đại là lối thoát của những họa sĩ đã thất bại trong hội họa giá vẽ.

Hình như Việt Nam không phải là đất lành cho nghệ thuật đương đại. Dù đã có hơn 10 năm tự phát của một số nghệ sĩ tiên phong và một lớp trẻ đầy triển vọng, chúng ta còn rất e ngại thứ nghệ thuật quá mở và đầy tinh thần cộng đồng này ngay cả tại Sài Gòn - TP. HCM, với yếu tố hạ tầng của một đô thị quốc tế, một cửa ngõ giao lưu với thế giới, rất thuận lợi cho sự phát triển nghệ thuật đương đại.

NQ: Nếu chính quyền, đoàn thể, các quỹ tài trợ, các doanh nghiệp và cả giới sáng tác văn học nghệ thuật, các cơ sở đào tạo và giới truyền thông… dần dần hiểu rằng các “trào lưu”, các loại hình mỹ thuật mới có ngôn ngữ nghệ thuật “phi truyền thống” cần các điều kiện hoạt động đặc thù, cần sự hỗ trợ về thủ tục hành chính, tiền, địa điểm, công chúng và có thể mang lại những lợi ích chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế (gắn với quảng cáo, du lịch…) và giáo dục thẩm mỹ cho người dân để rồi hợp tác hỗ trợ các nghệ sĩ thì thật là may mắn cho mọi bên. Tất nhiên, yếu tố quan trọng vẫn là tài năng. Ở đâu “ngẫu nhiên” xuất hiện tài năng trong các lĩnh vực mới này thì ở đó các lĩnh vực mới sẽ phát triển mạnh. Tôi nghĩ chả cứ ở hai thành phố Hà Nội và TP. HCM mà ở Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang, đồng bằng sông Cửu Long, Sa Pa, Đà Lạt hay Buôn Mê Thuột…, các loại hình nghệ thuật mới đều có thể phát triển.

TL: Dĩ nhiên là biết đến bao giờ cho đủ (?), xem ra có thể sẽ cứ “đuổi bắt” như thế này ít ra là cả chục năm nữa! “Cần và đủ” mà đi sâu vào thì bao la quá! Từ nền giáo dục (nghệ thuật) ở tầm đại chúng đến giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp và đến hệ thống quản lý văn hóa.., xa hơn là luật pháp hoàn chỉnh đến đâu, hệ thống tài trợ nghệ thuật (bao gồm cả từ nhà nước, từ nguồn tư nhân và phi lợi nhuận). Và điều cuối cùng là vai trò của báo chí, các nhà nghiên cứu, phê bình trong việc làm cầu nối, tác động đến nghệ thuật, phát triển công chúng yêu nghệ thuật… 10 năm trôi cái vèo, tôi chưa thấy điều gì tích cực hơn so với 10 năm trước…

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled website. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.