Home » literature

Trích đoạn tác phẩm của Haruki Murakami

9 March 2006 No Comment

Theo Từ điển bách khoa Columbia 2001, Haruki Murakami “là một trong những tiểu thuyết gia thế kỷ 20 quan trọng nhất của Nhật Bản”. Báo The Guardian viết: “Không có nhiều tác giả cùng thời mà tác phẩm lôi cuốn được giới độc giả trẻ trực tiếp đến như thế, không chỉ ở Nhật mà trên khắp thế giới”.

Haruki Murakami sinh năm 1949 ở Kyoto, lớn lên ở Kobe. Ngay từ nhỏ, Haruki Murakami đã có khuynh hướng phản kháng đối với văn hóa truyền thống. Ông tìm đọc những tác giả Âu châu thế kỷ 19. Sau đó, ông học tiếng Anh và đọc nguyên tác nhiều tác phẩm văn chương phương Tây. Tác phẩm đầu tay Lắng nghe gió hát (Kaze No Uta O Kike, Hear the Wind Sing) xuất bản năm 1979, được giải thưởng “Tác giả mới - Gunzo” ngay năm ấy, rồi ông tiếp tục thành công với hai tiểu thuyết sau đó và nhiều truyện ngắn. Phong cách Haruki Murakami định hình từ tác phẩm thứ 3 là Cuộc phiêu lưu theo con cừu (Hitsuji O Meguru Boken, A Wild Sheep Chase) xuất bản năm 1982, giải thưởng “Tác giả mới - Noma” trong năm, pha trộn những chi tiết trinh thám đen với các ảo giác siêu hình. Nhân vật của ông ham mê âm nhạc, phim ảnh Âu - Mỹ, theo đuổi những giá trị khác lạ và khao khát vượt thoát sự ràng buộc của văn hóa truyền thống.

Sang sống ở Ý năm 1986, ông viết Rừng Na Uy (Noruuei No Mori, Norwegian Wood), tác phẩm đã đưa ông lên vị trí “siêu sao” trên văn đàn Nhật Bản. Ngay trong năm đầu tiên, Rừng Na Uy đã bán được 1 triệu bản. Nhân vật của Haruki Murakami không chỉ hấp dẫn giới trẻ Nhật Bản mà còn tìm được sự cộng hưởng trên khắp thế giới. Tiếng tăm ở nước ngoài cộng với vị trí “siêu sao” trong nước đã làm tăng khoảng cách của Murakami đối với văn học truyền thống Nhật Bản. Nhà văn Oe Kenzaburo, giải Nobel Văn chương 1994, công kích ông là “hôi mùi bơ” (batakusai) vì hay dẫn những chi tiết văn hóa Âu - Mỹ. Tác phẩm gần đây nhất của Haruki Murakami, Kafka bên bờ biển (Umibe No Kafuka, Kafka On The Shore), xuất bản tháng 9 năm 2002 đã bán hết 460.000 cuốn trong hai tháng đầu.

Tháng 3/2006, các nhà phê bình và dịch giả từ 16 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ tham dự hội thảo về Haruki Murakami trong hai ngày 25 và 26 tại Đại học Komaba (Tokyo). Tham dự có Jay Rubin, giáo sư Văn học Nhật tại Đại học Harvard, người dịch nhiều tác phẩm của Murakami. Tại hội thảo, nhà văn Mỹ Richard Powers sẽ tham luận về tính dân tộc và tính nhân loại trong các sáng tác của Murakami. Tiếp đó là những buổi thảo luận về ảnh hưởng của Murakami trong đời sống văn học thế giới đương đại, về việc dịch thuật và làm thế nào để giữ được vẻ đẹp của tác phẩm Murakami trong quá trình dịch thuật. Để độc giả có đôi chút hình dung về hiện tượng văn học này, Saigon CityLife giới thiệu trích đoạn từ một tác phẩm tiêu biểu của ông qua bản dịch Anh ngữ của Jay Rubin.

Nguyệt cầu và Nhật thực - Về những con ngựa đang ngủm trong chuồng

fullmoon_06Nói cho cùng, có thể nào một con người hiểu được một người khác trọn vẹn?

Chúng ta có thể bỏ ra nhiều thời gian và nỗ lực để tìm hiểu một người khác, nhưng cuối cùng thì chúng ta có thể đến gần được bản chất của người ấy đến thế nào? Chúng ta tự đinh ninh rằng chúng ta thấu hiểu con người kia, nhưng chúng ta có thật sự hiểu được một điều gì quan trọng về một ai khác?

Sau khi nghỉ việc ở công ty luật một tuần, tôi khởi sự suy ngẫm một cách nghiêm túc về những điều như vậy. Cho đến thời điểm đó, chưa bao giờ trong đời mình tôi lại vật lộn với những vấn nạn như vậy. Và tại sao lại chưa? Có lẽ vì hai bàn tay tôi quá dầy chuyện cơm áo. Đơn giản là tôi đã quá bận rộn không có thời gian để suy ngẫm về mình.

Một điều vơ vẩn đã bắt tôi khởi sự suy tư, những sự việc quan trọng nhất trên trần gian này đều khởi sự từ những điều lặt vặt. Một hôm sau khi Kumiko vội vã ăn điểm tâm rồi đi làm, tôi bỏ quần áo vào máy giặt, dọn giường, rửa chén bát rồi hút bụi nhà. Rồi tôi ra hàng hiên ngồi bên con mèo, dò mục quảng cáo tìm việc làm và rao vặt trên báo. Tôi ăn trưa rồi đi siêu thị. Tôi mua thức ăn cho bữa tối, bột giặt, khăn giấy và giấy vệ sinh trong quầy giảm giá. Về lại nhà, tôi chuẩn bị cho bữa ăn tối, rồi nằm xuống sofa đọc sách chờ Kumiko về.

Vừa mới bị thất nghiệp, tôi cảm thấy đời sống này thật dễ chịu. Không còn phải đến sở trong các chuyến xe điện ngầm đông nghẹt người, không còn phải gặp những bản mặt mà mình không ưa. Và điều khoái nhất là tôi có thể đọc bất cứ cuốn sách nào, vào bất cứ lúc nào, mà mình thích. Tôi không biết đoạn đời nhàn tản này sẽ kéo dài được bao lâu, nhưng đến thời điểm đó thì ít nhất cũng sau một tuần. Tôi đang hân hưởng nó, và cố không thèm nghĩ gì đến tương lai. Đây là lúc nghỉ ngơi tuyệt vời nhất trong đời. Chắc hẳn nó sẽ chấm dứt vào một lúc nào đó, nhưng mặc kệ, lúc nào đến thì đến, tôi quyết định sẽ hưởng thụ cho tới bến.

Dù vậy, một chiều nọ tôi không thể chìm đắm mãi vào những trang sách vì Kumiko đi làm về muộn. Nàng chưa bao giờ về nhà sau 6.30 tối, và nếu nghĩ rằng mình sẽ về muộn dù chỉ 10 phút thôi thì nàng cũng luôn luôn báo cho tôi biết. Tính nàng là như vậy, hầu như chu đáo quá mức. Nhưng hôm đó là một ngoại lệ. Sau 7 giờ nàng vẫn chưa về nhà mà cũng không gọi cho tôi. Rau thịt đều đã sẵn sàng, chỉ cần nàng về là tôi sẽ nấu ngay. Tôi không nghĩ đến một bữa thịnh soạn trong trí. Tôi sẽ xào thịt bò đã xắt mỏng, củ hành, ớt xanh, giá, rồi cho thêm chút muối, tiêu, nước tương và xối một chút bia. Đây là công thức nấu ăn độc chiêu của những ngày tôi còn độc thân. Cơm đã nấu xong, xúp miso đã hâm nóng, còn rau cũng đã được thái và xếp riêng từng món, sẵn sàng cho vào chảo. Chỉ thiếu có Kumiko. Tôi đói đến nỗi đã nghĩ đến việc nấu riêng phần của mình rồi ăn trước, nhưng tôi không muốn. Lòng nào mà làm như vậy!

Tôi ngồi vào bàn ăn, lai rai chút bia, nhấm nháp mấy cái bánh quy hẩm mà tôi tìm thấy trong tủ chứa thức ăn. Tôi ngó kim đồng hồ từ từ dịch chuyển rồi vượt qua vị trí 7.30.

Khi nàng về thì đã quá 9 giờ, trông mệt lả. Mắt nàng đỏ ngầu, a, điềm xấu rồi đây! Khi mắt nàng đỏ như thế thì luôn luôn có chuyện xui xẻo đã xảy ra.

OK, tôi tự nhủ, hãy đơn giản, điềm tĩnh, và giữ vẻ tự nhiên. Đừng kích động quá nhé.

Kumiko nói, “Em thật xin lỗi, việc làm này không ổn chút nào. Em đã nghĩ đến chuyện gọi cho anh, nhưng hết việc này lại dồn đến việc khác.”

“Chuyện nhỏ, ổn thôi mà, em đừng bận tâm.” Tôi cố giữ giọng dịu dàng. Và thật ra tôi không cảm thấy khó chịu. Tôi đã nhiều lần trải qua sự cố như thế này. Cày cuốc kiếm ăn với đời có nhiều lúc rất gay go, không dễ dàng êm ái như việc ra vườn lựa hái một đóa hồng đẹp nhất để mang đến tặng, rồi ở lại caoe ngày chăm sóc bà ngoại đang bệnh, mà nhà bà thì chỉ cách nhà bạn có hai đoạn đường. Nhiều lúc bạn phải làm những việc chết tiệt với những kẻ khó ưa, tới nỗi không có cả cơ hội để gọi điện thoại về nhà. Chỉ mất chừng 30 giây để nói rằng “Hôm nay anh sẽ về trễ”, và máy điện thoại thì có khắp mọi nơi, vậy mà bạn chẳng thể thực hiện được.

Tôi bắt đầu nấu ăn, bật bếp ga, cho dầu ăn vào chảo. Kumiko mở tủ lạnh lấy bia, lấy cái ly trên tủ, kiểm sơ các món tôi sắp nấu, rồi ngồi im lặng bên bàn ăn. Chỉ cần nhìn nét mặt, tôi biết nàng không thấy ly bia ngon lành gì.

“Lẽ ra anh nên ăn trước một mình.” Nàng nói.

“Không sao đâu mà. Anh chưa đói lắm đâu.” Trong lúc tôi xào thức ăn, Kumiko đi rửa ráy. Tôi có thể nghe tiếng nàng đang rửa mặt và đánh răng. Một lát sau, từ buồng tắm, nàng trở ra tay cầm vật gì đó. Thì ra chúng là giấy vệ sinh và khăn giấy mà tôi đã mua ở siêu thị.

“Tại sao anh lại mua thứ này?” Nàng hỏi, giọng ngao ngán.

Tay giữ cái chảo, tôi nhìn nàng. Rồi tôi nhìn hộp khăn giấy và cuộn giấy vệ sinh. Tôi không hiểu nàng đang muốn nói cái gì.

“Em muốn nói gì nào? Chỉ là giấy vệ sinh và khăn giấy thôi mà. Mình cần mà. Mình chưa hết mấy thứ đó nhưng chúng đâu có hư hỏng gì nếu mình mua để dành sẵn.”

“Không, dĩ nhiên là không hư hỏng gì. Nhưng tại sao anh phải mua khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa?”

fullmoon_16“Anh vẫn không hiểu ý em,” Tôi cố trấn tĩnh. “Chúng đang được giảm giá. Khăn giấy màu xanh lơ đâu có làm xanh mũi em. Có gì là nghiêm trọng đâu?”

“Nghiêm trọng chứ. Em ghét khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa. Anh không biết điều đó à?”

“Không, anh đâu có biết.” Tôi nói. “Tại sao em ghét chúng?”

“Làm sao em biết được là tại sao em ghét chúng chứ? Em chỉ thấy ghét. Anh ghét mấy tấm phủ máy điện thoại, ghét bình thủy có in hoa văn, ghét quần jeans ống loe có đinh tán, ghét móng tay em  được cắt giũa. Mà chính anh cũng không thể giải thích được vì sao. Đó chỉ là vấn đề sở thích.”

Thật ra thì tôi có thể giải thích lý do vì sao tôi không thích mấy cái quái này, nhưng dĩ nhiên là tôi đã không làm chuyện đó. Tôi nói, “Thôi được, đó chỉ là vấn đề sở thích. Nhưng em có chắc là trong sáu năm mình lấy nhau em chưa một lần mua khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa không?”

“Chưa bao giờ. Dù chỉ một lần.”

“Thật không?”

“Thật chứ. Khăn giấy em mua không trắng thì vàng hay hồng. Và em không bao giờ mua giấy vệ sinh có in hoa văn. Em thấy sốc vì anh có thể sống với em lâu ngần ấy mà chẳng thèm để tâm biết điều đó.”

Tôi cũng bị sốc không kém khi nhận ra rằng trong sáu năm trời đăng đẵng mà tôi chẳng một lần dùng khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa văn.

“Và tiện thể, để em nói luôn điều này,” nàng tiếp tục. “Em ghét cay ghét đắng món thịt bò xào với ớt xanh. Anh chẳng biết điều đó à?”

“Không, anh không biết”.

“À há, đúng là vậy. Và anh không thèm hỏi em vì sao. Em không chịu nổi mùi hai thứ đó xào chung trong chảo.”

“Em có ý nói là trong sáu năm trời nay không lần nào em xào thịt bò với ớt xanh?”

Nàng lắc đầu. “Em ăn ớt xanh trộn xà lách. Em xào thịt bò với củ hành. Nhưng em chưa bao giờ nấu thịt bò và ớt xanh với nhau.”

Tôi thở dài.

“Anh chưa bao giờ nghĩ rằng điều đó là lạ à?”

“Nghĩ rằng nó lạ? Anh chả nhận ra vậy nữa kìa,” tôi nói, ngẫm nghĩ trong một thoáng xem từ khi lấy nhau có bao giờ tôi ăn món xào nào mà trong đó có thịt bò với ớt xanh. Dĩ nhiên, tôi chẳng thể nào nhớ ra.

Nàng nói, “Anh sống với em suốt ngần ấy năm nhưng anh chẳng hề quan tâm gì đến em. Anh chỉ nghĩ đến thân anh thôi.”

“Này, gượm đã.” Tôi tắt ga, đặt cái chảo xuống bếp. “Hãy khoan nói quá trớn nhé. Có thể em đúng. Có lẽ anh quan tâm không đủ đến những thứ như khăn giấy với lại giấy vệ sinh, và thịt bò với lại ớt xanh. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh đã không quan tâm đến em. Anh đếch cần để ý đến khăn giấy của mình màu gì. OK, nếu là màu đen thì anh không chịu nổi, nhưng trắng, hay xanh thì chẳng có vấn đề gì. Thịt bò và ớt xanh cũng vậy. Xào chung hay riêng, ai mà lấy làm điều? Món bò xào ớt xanh có thể biến mất khỏi mặt địa cầu này mà chẳng hề hấn gì tới anh. Nó cũng chẳng dính dáng gì tới em, tới bản chất của em, tới những thứ làm cho Kumiko là Kumiko. Anh nói có sai không nào?”

Thay vì trả lời tôi, nàng nốc hai ngụm cạn ly bia rồi ngó sững cái ly trống trơn.

Tôi trút cả chảo đồ xào vào thùng rác. Thế là đi đời thịt bò với ớt xanh với củ hành với giá sống rồi. Quái đản. Mới phút trước là món ăn thơm ngon, phút sau đã là rác rưởi. Tôi mở chai bia, dốc vào miệng.

“Tại sao anh đổ đi?” Nàng hỏi.

“Em ghét nó mà.”

“Nhưng lẽ ra anh ăn được mà.”

“Đột nhiên anh đếch khoái thịt bò với ớt xanh nữa.”

Nàng nhún vai. “Khoái thì cứ làm.”

Nàng đặt tay lên bàn chống lấy khuôn mặt. Nàng ngồi yên như thế một lát. Tôi có thể thấy nàng không khóc cũng không ngủ. Tôi ngó cái chảo không, ngó Kumiko, rồi nốc cạn chai bia. Điên rồ. Ai cần quái gì đến giấy vệ sinh và ớt xanh?

Nhưng tôi bước lại đặt tay lên vai nàng và nói, “OK, giờ anh hiểu rồi. Anh sẽ không bao giờ mua khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa nữa. Anh hứa. Ngày mai anh sẽ mang mấy thứ đó lại siêu thị để đổi thứ khác. Nếu họ không cho đổi, anh sẽ đốt chúng ngoài sân. Anh sẽ mang tro đổ ra biển. Và chẳng bao giờ làm món thịt bò với ớt xanh nữa. Chẳng bao giờ. Mùi này sẽ bay mất ngay ấy mà, mình chẳng bao giờ phải nghĩ gì về nó nữa. OK?”

Nhưng nàng vẫn không nói một lời. Tôi muốn đi bộ ra ngoài đâu đó một giờ, và khi về thì thấy nàng vui trở lại, nhưng tôi biết rằng điều đó không có cơ xảy ra. Chính tôi phải giải quyết chuyện này.

“Kìa, em mệt lắm rồi,” tôi nói. “Nằm nghỉ một lát rồi mình sẽ đi ăn pizza. Lần sau cùng mình ăn pizza là lúc nào nhỉ? Có cá cơm và hành tây. Mình sẽ chia nhau một cái. Thỉnh thoảng đi ăn tiệm cũng chẳng đến nỗi cháy túi đâu.”

Chiêu này cũng chẳng hiệu nghiệm. Nàng vẫn chống tay lên cằm. Tôi chẳng biết phải nói gì nữa. Tôi ngồi xuống và ngó nàng đăm đăm từ đầu bên này bàn. Một vành tai của nàng lộ ra dưới mái tóc đen ngắn. Trên vành tai có mang một chiếc bông tai trước đây tôi chưa hề thấy, chiếc bông tai bằng vàng bé tí có hình con cá. Nàng mua món này ở đâu vậy? Tôi muốn hút thuốc. Tôi tưởng tượng mình lấy thuốc lá và bật lửa ra khỏi túi, đặt điếu thuốc lên môi rồi đốt. Tôi hít vào một hơi đầy phổi. Mùi thịt bò và rau cải xào làm bụng tôi sôi lên. Tôi đói lắm rồi.

Anh mắt tôi chạm tấm lịch treo trên tường. Tấm lịch chỉ rõ các tuần trăng. Trăng sắp rằm. Dĩ nhiên đó cũng là lúc Kumiko sắp có kinh.

fullmoon_03Chỉ sau khi lập gia đình tôi mới nhận ra rằng mình là một cư dân của trái đất này, hành tinh thứ ba của thái dương hệ. Tôi sống trên trái đất, trái đất xoay quanh mặt trời, và mặt trăng xoay quanh trái đất. Thế nào đi nữa, điều này sẽ tiếp tục vĩnh viễn (hay cái được xem là vĩnh viễn nếu so với tuổi thọ của tôi). Cái mà đã khiến tôi nhìn sự vật theo cách này, chính là tính chính xác tuyệt đối của chu kỳ kinh nguyệt hai-mươi-chín-ngày của vợ tôi. Nó hoàn toàn tương ứng với việc đầy hay khuyết của con trăng. Và các kỳ kinh nguyệt của nàng luôn luôn khó khăn. Nàng sẽ trở nên bất thường, có khi bị trầm cảm, mấy ngày trước lúc bắt đầu. Thế nên chu kỳ của nàng trở thành chu kỳ của tôi. Tôi phải thận trọng để không gây ra bất cứ rắc rối không cần thiết nào vào lúc nàng đang có tháng. Trước khi lấy nhau, tôi đã không quan tâm gì đến tuần trăng. Có thể tôi bắt gặp vầng trăng trên bầu trời, nhưng hình thể của nó trong bất cứ thời điểm nào cũng không quan hệ gì đến tôi. Giờ đây hình thể của con trăng là một điều tôi luôn mang theo trong đầu.

Tôi từng bồ bịch với nhiều phụ nữ trước Kumiko, và dĩ nhiên mỗi người đều có chu kỳ kinh nguyệt riêng. Có người khó khăn, có người dễ dàng, có người hết sạch trong vòng ba ngày, có người kéo dài cả tuần, có người đều đặn, có người có khi trễ cả mười ngày làm tôi lo sợ tê tái; có người bị tâm trạng bực dọc, có người không bị tác động gì. Tuy nhiên cho tới khi cưới Kumiko, tôi chưa bao giờ chung sống với người phụ nữ nào. Trước lúc đó, các chu kỳ của thiên nhiên mang ý nghĩa của sự thay đổi của các mùa. Vào mùa đông thì tôi soạn áo khoác ra, còn mùa hè là thời của các đôi dép. Với hôn nhân, tôi không chỉ nhận lấy vai trò đồng cư, mà còn nhận lấy cả một khái niệm mới về tính chu kỳ nữa: đó là tuần trăng. Duy nhất một lần nàng mất chu kỳ kinh nguyệt trong vài tháng là thời gian nàng có thai.

“Em xin lỗi,” nàng ngẩng mặt lên. “Em không có ý trút bực dọc lên anh. Em mệt quá, em cảm thấy bức bối quá.”

Tôi nói, “Ổn rồi mà, đừng quá áy náy. Em nên xả ra với ai đó khi mệt mỏi bực dọc. Nó làm em thấy dễ chịu hơn.”

Kumiko hít vào một hơi dài, thật chậm, giữ hơi lại một lúc, rồi thở ra.

Nàng hỏi, “Còn anh thì sao?”

“Anh thì sao hả?”

“Anh không trút cơn giận lên ai khi anh bị mệt. Em thì em trút láng. Tại sao vậy nhỉ?”

Tôi lắc đầu. “Anh không để ý. Buồn cười thật.”

“Có lẽ anh có một cái giếng thiệt sâu trong lòng, rồi anh hét to vào giếng. “Ông vua tai lừa! Ông vua tai lừa!” Hét xong thì thấy khỏe re.”

Tôi ngẫm nghĩ thoáng chốc rồi nói, “Có lẽ vậy.”

Kumiko lại nhìn chai bia rỗng. Nàng quan sát cái nhãn, rồi miệng chai, rồi lấy mấy ngón tay xoay xoay cổ chai.

“Em sắp có tháng.” Nàng nói. “Em nghĩ là vì thế nên em cảm thấy bực dọc.”

“Anh biết. Đừng quá để ý tới chuyện đó. Em không phải là người duy nhất bị vậy. Hàng đống ngựa cũng chết khi trăng tròn.”

Nàng nhấc bàn tay khooei cổ chai, miệng há hốc ngạc nhiên nhìn tôi.

“Nè, tự dưng anh lấy chuyện đó ở đâu ra vậy?”

“Hôm nọ anh đọc trên báo. Anh có ý kể cho em nghe, nhưng rồi không dưng quên bẵng đi. Nó ơoe trong cuộc phỏng vấn một cha nội bác sĩ thú y. Hình như loài ngựa bị tuần trăng tác động dữ lắm, cả hai mặt sinh lý lẫn tâm lý. Bộ não của chúng bị kích động khi trăng sắp tròn, và chúng bắt đầu có đủ thứ trục trặc về mặt sinh lý. Rồi thì khi đến ngay trong đêm rằm, nhiều con trở bệnh mà chết. Chẳng ai thật sự biết rõ nguyên nhân do đâu, nhưng người ta làm thống kê thì thấy y chang như vậy. Mấy cha bác sĩ thú y chăm sóc ngựa chẳng bao giờ được ngủ ngáy đàng hoàng trong những đêm trăng tròn, mấy chả bận quá mà.”

“Ngộ thiệt.” Kumiko nói.

“Tuy vậy, nhật thực còn ác liệt hơn nhiều. Đúng là bi kịch cho loài ngựa. Em không thể tưởng tượng nổi có bao nhiêu con ngựa tiêu tùng trong ngày nhật thực toàn phần đâu. Dù sao anh chỉ muốn nói một điều là ngay giây phút này loài ngựa đang ngủm củ tỏi khắp nơi trên thế giới. Em thấy không, việc em trút cơn bực dọc lên người khác chỉ là chuyện nhỏ nếu so với bi kịch của loài ngựa. Vì vậy, quên nó đi. Hãy nghĩ về loài ngựa đang ngủm kìa. Thử tưởng tượng là chúng đang nằm trên rơm rạ trong mấy cái chuồng dưới ánh trăng tròn, miệng sùi bọt, thở hắt ra đau đớn, ý dà dà…”

Dường như nàng đang nghĩ về mấy con ngựa đang hấp hối trong chuồng theo lời tôi.

“Thiệt tình, em phải công nhận là anh lẹ miệng thiệt, nói gì ai nghe cũng thấy xuôi tai.”

“Êm rồi hén, thay đồ rồi mình đi ăn pizza nha.”

Đêm đó, trong bóng tối của phòng ngủ, tôi nằm kề Kumiko, ngó lên trần nhà rồi tự hỏi mình đã hiểu chút gì về người đàn bà này. Đồng hồ chỉ 2 giờ sáng. Nàng đang ngủ say. Trong bóng tối, tôi nghĩ về khăn giấy màu xanh lơ và giấy vệ sinh in hoa và thịt bò và ớt xanh. Tôi sống với nàng suốt mấy năm trời mà không ý thức rằng nàng ghét cay ghét đắng mấy thứ đó. Thiệt tình thì mấy thứ đó chỉ là chuyện vặt. Chuyện ngu xuẩn nữa kìa. Thứ chuyện để cười cho vui, chẳng đáng gì để làm ầm ĩ. Chúng tôi có chút xích mích với nhau, và lẽ ra trong một vài ngày thì sẽ quên phắt ngay thôi.

Nhưng chuyện này thì khác. Nó làm tôi bận tâm một cách lạ lùng, nó làm tôi khó chịu như bị hóc xương cá nhooe trong họng. Có lẽ, có lẽ nó nghiêm trọng hơn tôi tưởng. Có lẽ nó là một đòn hiểm chí mạng. Hoặc có lẽ nó chỉ là sự khởi đầu của một cái gì đó sẽ là một cú định mệnh chí tử. Có thể tôi đang đứng ở ngưỡng cửa của một điều gì to lớn, bên trong chứa một thế giới chỉ riêng thuộc về Kumiko, một thế giới bát ngát mênh mông mà tôi chưa hề biết đến. Tôi đã thấy nó như một căn phòng rộng và tối. Tôi đang đứng đó, tay cầm cái bật lửa, ánh lửa yếu ớt lóe lên chỉ đủ cho tôi thấy phần nhỏ nhất của căn phòng.

Có bao giờ tôi sẽ thấy phần còn lại không? Hay tôi sẽ già đi rồi xuống lỗ mà chẳng bao giờ thật sự hiểu nàng? Nếu điều đó là tất cả để dành cho tôi, thì ý nghĩa của cuộc hôn nhân mà tôi đang sống là cái gì đây? Điều gì là ý nghĩa của cuộc đời này khi tôi chia chăn sẻ gối với một người đồng sàng mà dị mộng?

Đây là điều mà tôi đã suy ngẫm trong đêm đó, và điều mà tôi tiếp tục thỉnh thoaoeng băn khoăn mãi lâu về sau. Mãi lâu về sau tôi mới hiểu mình đã ngộ được hướng đi đến cốt lõi của vấn đề.

Thận Nhiên dịch từ bản Anh ngữ “Full Moon and Eclipse of the Sun On Horses Dying in the Stables” của Jay Rubin. Người dịch kính tặng bản dịch này cho P.T.V

Leave your response!

Add your comment below, or trackback from your own site. You can also subscribe to these comments via RSS.

Be nice. Keep it clean. Stay on topic. No spam.

You can use these tags:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

This is a Gravatar-enabled website. To get your own globally-recognized-avatar, please register at Gravatar.